Mitsubishi Attrage khuấy động thị trường phân khúc xe Sedan hạng B

Danh mục: 

Với mức giá cho phiên bản cao cấp nhất là 548 triệu đồng, thực sự cạnh tranh với Honda City AT (599 triệu đồng), Nissan Sunny AT (588 triệu đồng), Toyota Vios G (612 triệu đồng), Mitsubishi Attrage đã làm thị trường dậy sóng ngay khi vừa ra mắt.

Nhiều lợi thế cạnh tranh.

Mitsubishi Attrage là phiên bản sedan của dòng hatchback Mirage đã được Mitsubishi giới thiệu trước đây. Điều này tạo ra sự cạnh tranh khá toàn diện với các đối thủ khác như Toyota Vios (với Yaris), Honda City và Nissan Sunny.

Lợi thế hơn của Attrage với những đối thủ cùng phân khúc ngoài mức giá đầy thuyết phục ở mức 548 triệu đồng cho phiên bản cao cấp nhất (thấp hơn Vios G 64 triệu đồng và 51 triệu đồng đối với Honda City sử dụng hộp số CVT), mẫu xe này còn lợi thế không nhỏ khi được nhập khẩu trực tiếp từ Thái Lan.

Tuy nhiên Mitsubishi Attgage có phần yếu thế hơn bởi động cơ được trang bị là loại MIVEC 3 xy lanh thẳng hàng, dung tích 1.2 có công suất cực đại công suất 78 mã lực tại 6.000 vòng/phút, momen xoắn cực đại 100Nm tại 4.000 vòng/phút đi kèm với lựa chọn hộp số sàn 5 cấp hoặc hộp số tự động CVT. Chiếc xe này có tốc độ tối đa 172km/h cùng mức tiêu hao nhiên liệu 4,7l/100km (ở điều kiện thử nghiệm tiêu chuẩn).

 

Về trang thiết bị an toàn Attrage được trang bị túi khí đôi phía trước (CVT), hệ thống chống bó cứng phanh  ABS (2 bánh trước sử dụng phanh đĩa, hệ thống phanh sau dạng tang trống), hệ thống ổn định điện tử (EBD).

Ngoại hình của Attrage thể hiện đúng phong cách thiết kế của Mitsubishi với nhiều đường nét bo tròn, hạn chế đường gân dập nổi trên thân xe. Chi tiết thiết kế này cũng xuất hiện trên tản nhiệt ở cản trước, đi kèm cặp đèn pha tạo sự kết hợp hài hòa khi hòa nhập với thiết kế tổng thể của chiếc xe. Ngoài ra, dải đèn LED phát sáng ban ngày cùng nút bấm khóa được đặt ngay dưới tay mở cửa cũng là những đặc điểm mang lại sự tò mò, hấp dẫn nhất định dù rằng đây chỉ là một mẫu xe cỡ nhỏ bình dân.

Kích thước 4.245 x 1.670 x 1.515 mm (dài, rộng, cao) của chiếc xe cùng thiết kế không gian nội thất khá hợp lí cho phép người ngồi bên trong không quá chật chội, và với hai người cao 1,7m cùng ngồi một phía ở hai hàng ghế, khoảng để chân cũng khá thoải mái.

ss
ss

Thiết kế nội thất của chiếc xe hướng tới sự giản đơn nhất có thể, hoàn toàn không tìm thấy sự điệu đà dù chiếc xe có đủ các trang thiết bị tiện nghi so với các đối thủ. Tại phiên bản cao cấp, nút bấm khởi động được đặt vị trí bên trái, điều này tạo cảm giác ngược và khiến người lái phải làm quen trong thời gian đầu.

Một số trang thiết bị tiện nghi nổi bật gồm có: ghế bọc da và điều hòa tự động. Nổi bật nhất là màn hình trung tâm 6,1 inch với chức năng cảm ứng. Ngoài chức năng đọc đĩa CD/MP3, màn hình còn hỗ trợ đầu đọc AUX/USB và camera lùi. Người sử dụng có thể kết nối điện thoại smart phone để sử dụng hệ thống nghe gọi với một micro thu tiếng đặt sau vô-lăng cũng như truy cập các danh mục giải trí khác.

 
ss
 

Trải nghiệm lái thử thực tế

Với sự hỗ trợ của hệ thống trợ lực điện tử, Attrage cho cảm giác di chuyển trong phố nhẹ nhàng, đặc biệt thích hợp với tuýp người sợ tay lái nặng. Với hộp số CVT cùng động cơ 1.2L thì chiếc xe hoàn toàn đủ và hợp lý để sử dụng vào nhu cầu đi lại hàng ngày. Nó tăng tốc một cách nhẹ nhàng và mượt mà cho đến khi đạt tốc độ bạn muốn và với Attrage, việc chạm mốc 80 km/h không có gì khó khăn.

Một điểm đáng lưu ý ở hộp số của chiếc xe này là cấp số mang kí tự B (Brake). Đây là cấp số hỗ trợ cho việc xuống dốc, tương tự như cấp số L ở hộp số tự động giúp xe sử dụng phanh động cơ như một cách duy trì tốc độ an toàn khi xuống dốc. Điều này hoàn toàn cần được tham vấn cách sử dụng đối với cấp số này để có cách sử dụng đúng nhất, bởi cấp số này hoàn toàn không phải là cấp số dùng để vượt xe hay tăng tốc độ đột ngột.

Khi vận hành, các bài thử đánh lái ở vận tốc 40 km/h và 60 km/h, Mitsubishi Attrage thể hiện sự cân bằng khá tốt dù không có hệ thống cân bằng điện tử (ESP), và khi ở tốc độ 70 km/h trở lên, xe vẫn có sự hỗ trợ tốt của hệ thống phanh ABS, xe giữ được hướng đi khi phải đánh lái đột ngột tránh trướng ngại vật.

Tuy nhiên ở dải tốc độ từ 80km/h trở lên, sự ổn định đã không được tốt như ở tốc độ thấp do kích thước của một chiếc xe cỡ nhỏ hoàn toàn không dễ gì giữ được sự vận hành mượt mà, đặc biệt là điều kiện đường sá tại Việt Nam.